Con người, trong thân phận hữu hạn của mình, thường xuyên phải kinh nghiệm những căng thẳng nội tại như là một phần không thể tách rời trong máu thịt. Dường như luôn có một giằng co không ngừng trong chính bản thân, khiến ta phải vật lộn giữa những chọn lựa của cuộc sống. Phải chăng thực tại đó đang phản ánh chính hiện hữu của nhân loại: được nắn lên từ bụi đất nhưng được sống động nhờ hơi thở thần linh. Con người mang trong mình hương vị của đất nhưng đồng thời cũng cưu mang những vương vấn về trời cao. Nhưng từ ban đầu, con người đâu có thế, cho dẫu “được tạo dựng giữa đất và trời” thì những con người đầu tiên vẫn sống trong “sự hài hòa của trật tự” cho đến khi họ quay lưng lại với trời cao. Từ đó, kinh nghiệm về những giằng xé nơi phận người chẳng có gì là lạ, nhưng đó nhất định không phải là hình mẫu nguyên thủy của nhân loại. Chính vì vậy, con người phải tìm lại “căn tính thuở ban đầu” khi mà họ không ngừng hướng về Thiên Chúa, ngay cả khi mang trong mình những nặng nề của đất. Và chỉ nơi Đức Kitô, con người sẽ tìm lại căn tính nguyên thủy và cùng Người họ sẽ mang lấy một con tim an hòa và vững mạnh để sống giữa một thế gian mà họ chẳng thuộc về.
Làm thế nào để tỏ bày rõ hơn cái căng kéo nội tâm mà ta đang bàn đến? Thánh Phaolo viết thế này: “Sự thiện tôi muốn thì tôi không làm, nhưng sự ác tôi không muốn, tôi lại cứ làm” (Rm 7,19) Thánh Phaolo cho chúng ta một cái nhìn nhân học thật chuẩn xác về những mâu thuẫn nơi lòng người, hay nói đúng hơn, thánh Phaolo diễn tả một kinh nghiệm rất sâu của thân phận con người sau sa ngã. Đâu cần phải là một Kitô hữu thì con người mới nhận ra những mâu thuẫn nội tâm này. Ai mà chẳng biết kỷ luật là tốt, là cần thiết nhưng được mấy ai dám ép mình vào kỷ luật. Thật là hiển nhiên khi biết rằng tập thể dục, đọc sách, ngủ sớm là tốt; nhưng từ cái biết để đi đến cái tay, cái chân thì nó xa vạn dặm. Hay chúng ta có thể liệt kê ra đủ thứ mà chúng ta xác tín rằng nó là xấu; tuy nhiên, chúng ta lại vi phạm như cơm bữa. Như vậy, thánh Phaolo và kinh nghiệm dạy ta rằng nơi con người vẫn còn ý chí hướng thiện nhưng khả năng thực hiện bị thương tổn. Những mâu thuẫn ấy không chỉ là sự yếu đuối về tâm lý hay thiếu ý chí, cho dẫu những ngành khoa học như tâm lý học hay thần kinh học có thể giúp chúng ta hiểu một phần cơ chế của những giằng xé ấy. Là một Kitô hữu, chúng ta không chỉ dừng lại để nhìn thấy thực tại, hay những phân tích chuyên sâu của khoa học về các cơ chế đằng sau những giằng xé này; nhưng có một nguyên nhân tiềm ẩn sâu xa hơn, đó là vì tội mà chúng ta mang trong mình một con tim bị phân rẽ; và vì thế, chúng ta đang sống với một nội tâm chưa hoàn toàn thuộc về Thiên Chúa. Bao lâu, con tim của chúng ta còn phân rẽ, chưa quy hướng trọn vẹn về Thiên Chúa – khi mà chúng ta không còn tìm điểm tựa nơi Thiên Chúa thì bấy lâu ta vẫn cứ đi tìm điểm tựa nơi những điều hữu hạn và mong manh, muốn níu kéo những sự chẳng thuộc về ta trong bất an và lo sợ.
Mang trong mình một nội tâm bị phân rẽ nên con người luôn đi tìm trong vô định một nơi để thuộc về. Có người tìm nơi quyền lực, có người nơi thành công, tiền bạc, tình cảm hay danh vọng. Nhưng càng bám víu vào những điều ấy, con người càng cảm thấy bất an, bởi chúng vốn không phải là quê hương đích thực của trái tim. Chính kinh nghiệm dân gian cũng xác nhận điều này, người ta thường nói: “Lòng tham của con người thì vô đáy”; nhưng chẳng phải là “vô đáy” đâu, làm gì có điều gì mà có thể thỏa mãn con tim loài người cho bằng chính Thiên Chúa. Há chẳng phãi chúng ta được dựng nên cho chính Ngài sao? Đâu phải cho tiền bạc, danh vọng, lạc thú, hay tình cảm! Không phải là lòng người không có đáy nhưng họ chỉ là uống sai nguồn nước mà thôi, họ tìm uống ở những dòng nước mà uống rồi sẽ còn khát nữa (Ga 4, 13). Chỉ nơi Đức Giêsu, uống lấy Người, kết hiệp với Người mới làm cho lòng người thỏa khát khao (Ga 4, 14). Bởi nơi Đức Giêsu, con người không chỉ gặp một giáo huấn hay một lý tưởng sống, nhưng gặp chính Đấng là cội nguồn hiện hữu của chính mình.
Điều mà người ta gọi là “lòng tham vô đáy” thực ra phản ánh một sự thật sâu xa hơn: trái tim con người mang một khát vọng vô hạn. Vấn đề không nằm ở việc nó không có đáy, nhưng ở chỗ nó thường tìm cách lấp đầy khát vọng ấy bằng những thực tại hữu hạn.



