(Tin Mừng theo thánh Luca, chương 15, 11-32)
Dụ ngôn “Người con hoang đàng” trong Tin Mừng theo thánh Luca là một dụ ngôn rất quen thuộc với hầu hết mọi người trong chúng ta. Trong mùa Chay thánh này, Giáo Hội một lần nữa nhắc nhở chúng ta về những bất toàn và yếu đuối của con người. Ắt hẳn, ai trong chúng ta cũng thấy mình phần nào đó giống người con hoàng đàng. Chúng ta cũng cần trở về với Thiên Chúa là người cha nhân hậu. Giáo Hội muốn con cái mình ý thức thân phận yếu đuối của mình cũng như luôn luôn hy vọng và tin tưởng vào lòng nhân hậu của Thiên Chúa. Đặc biệt, trong hình ảnh của người con cả, chúng ta thấy không chỉ sự hoang đàng của anh ta, mặc dù anh luôn ở với cha, mà còn cả sự sai lệch trong nhận thức về căn tính của mình, là con chứ không phải người làm thuê. Từ điều đó, người viết được gợi hứng để suy tư về sự sai lệch căn tính trong đời tu dựa trên hình ảnh nêu trên.
Trước hết, chúng ta cần hiểu được đâu là căn tính thực sự của đời tu. Trong Tin Mừng theo thánh Máccô, Đức Giêsu đã chọn 12 môn đệ và gọi các ông là tông đồ để các ông có thể ở với Ngài và được sai đi giảng dạy cũng như có thẩm quyền trừ quỷ. (Mc 3, 13-19) Cũng như các tông đồ ngày xưa, người tu sĩ trước hết được Thiên Chúa mời gọi để ở với Ngài rồi sau đó mới được trao ban sứ vụ. Thế nhưng, nhiều người lại có quan niệm sai lầm rằng đi tu là phải làm thế này hay thế nọ. Họ phải ra ngoài, đi đến với hết mọi người để sống đời phục vụ tận tình. Quả thật, điều này không sai thế nhưng chưa thực sự đúng trọng tâm của ơn gọi tu trì. Điều này dễ thấy trong Dụ ngôn về người con hoang đàng. Người con cả mặc dù ở nhà với cha thế nhưng anh không xem mình là con mà chỉ là người làm thuê. Anh không đi hoang về mặt địa lý nhưng anh đã đi rất xa về mặt tinh thần và tình cảm. Cho nên, đời tu sẽ mất đi ý nghĩa nếu người tu sĩ không còn xem cộng đoàn là nhà mình nữa. Hội dòng không còn là gia đình mà chỉ như một công ty để họ làm việc và được trả công.
Bởi vì có quan niệm sai lạc như thế, người con cả dễ trở nên nóng giận khi thấy thiếu sót của người khác, đặc biệt là người em của mình. Trong mắt anh ta, cậu em này là “thằng con của cha đó” (Lc 15, 30) chứ không phải máu mủ ruột thịt gì với anh cả. Anh chỉ thấy những lỗi phạm của người khác mà đâu thấy sự đi hoang của chính mình. Tương tự như vậy, trong đời tu, chúng ta cũng dễ rơi vào cạm bẫy của sự xét đoán. Thay vì góp ý và giúp nhau sửa đổi, nhiều người có khuynh hướng hạ bệ người khác để nâng mình lên. Bên cạnh đó, còn có một cám dỗ ít được nhận ra ơn đó là so sánh sự thánh thiện để rồi ganh tị nhau xem ai thánh thiện hơn ai. Họ cố gắng để làm ra vẻ thánh thiện hơn, ăn chay hãm mình hơn, dành nhiều thời gian cho việc cầu nguyện hơn. Thế nhưng, mấy ai biết được trong thâm tâm họ đang nghĩ gì hay muốn gì. Đây là một cám dỗ thực sự nguy hiểm vì ở đó người tu sĩ không còn đặt Chúa nơi trung tâm đời sống mình nữa nhưng là cái tôi kiêu ngạo của mình. Cuối cùng, họ tự tôn thờ họ trong ảo tưởng thánh thiện mà thôi.
Điều đáng nói ở đây nữa chính là người con cả không chỉ nóng giận với người em của mình mà anh giận cả người cha nữa. Anh không hiểu tại sao thằng em khốn nạn đó khi đã tiêu tán hết phần gia tài được cho lại còn dám vác mặt về và được cha đón tiếp cũng như tổ chức tiệc mừng. Có gì đáng vui ở đây! Rõ ràng chúng ta thấy anh ta tức giận khi thấy người khác được tha thứ. Nhiều người trong chúng ta cũng dễ rơi vào cạm bẫy này khi nghĩ rằng người đó có gì đáng để được như vậy. Thật không công bằng khi tha thứ cho họ! Nhiều khi chúng ta còn giận cả Chúa khi Ngài tha thứ tất cả, kể cả những người lỗi phạm nặng nề. Chúng ta trách móc Chúa vì sao Chúa không hành động như những gì chúng ta nghĩ. Bởi vậy, đừng để logic của con người làm chúng ta ở lại trong cái nhìn hạn hẹp của sự bốc đồng của chúng ta. Với Thiên Chúa, Ngài đều yêu thương và tha thứ cho tất cả mọi người. Ai cũng đều quý giá trong mắt Ngài và mỗi người đều có nhân phẩm như nhau, dù cho có lỗi phạm đến dường nào. Chúng ta không thể nào hiểu được nếu chúng ta không để cho mầu nhiệm Thập Giá đi vào trong cuộc sống của mình để rồi chúng ta học cách đau nỗi đau của tha nhân với sự cảm thông và yêu mến.
Đến đây, tôi chợt nhớ lại câu chuyện về thị kiến của thánh Anphongsô khi Chúa cho ngài thấy linh hồn một nữ tu trong một đan viện xuống hỏa ngục sau khi chết. Khi còn sống, các chị em trong đan viện đều nghĩ rằng người nữ tu này là thánh bởi vì trong 40 năm của đời tu, vị tu sĩ này đã sống hết sức thánh thiện, cầu nguyện lâu giờ, ăn chay hãm mình cách nhiệm nhặt. Theo những đánh giá bề ngoài, quả thật người nữ tu này thánh thiện và sẽ về nước Trời sau khi qua đời. Theo như thị kiến thì thánh Anphongsô được cho biết rằng suốt cả đời tu của mình, người tu sĩ này sống trong tình trạng của sự kiêu ngạo và ganh tị. Bà ta cầu nguyện, hay ăn chay hãm mình đều vì muốn chứng tỏ mình thánh thiện hơn người khác. Khi cầu nguyện, thay vì nghĩ về Chúa thì bà ta lại nghĩ về mình và so sánh mình với người khác. Bà không muốn người khác thánh thiện hơn mình và trở nên nóng giận khi thấy người khác được khen ngợi. Thậm chí, trong giờ sau hết, khi được linh mục đến giải tội, bà cũng không xưng thú hết những tội mà mình đã giấu, chỉ xưng cách chung chung. Qua đó, chúng ta thấy được rằng nếu đời tu không đặt Chúa ở vị trí trung tâm và ý thức mình được mời gọi để ở với Chúa thì dù ở đâu chúng ta cũng dễ đi lệch khỏi quỹ đạo và chỉ biết đặt mình vào trung tâm để rồi phung phí cả đời để chạy theo những hão huyền của cái tôi kiêu ngạo mà thôi.
Kế đến, chúng ta nhận thấy rằng người con cả không nghĩ mình là con nên anh ta cũng sợ hãi. Thái độ sợ hãi này nói lên mong muốn được công nhận những nỗ lực của bản thân. “Cha coi, đã bao nhiêu năm trời con hầu hạ cha và chẳng khi nào trái lệnh, thế mà chưa bao giờ cha cho lấy được một con dê con để con ăn mừng với bạn bè.” (Lc 15, 29) Bởi vì nghĩ rằng mình là người làm công, nên anh ta vâng lệnh cha mình như người tôi tớ với ông chủ mà thôi. Sự vâng lệnh đó nói lên một sự nổi loạn vì nó xuất phát từ nỗi sợ không được công nhận. Anh ta làm mọi sự để làm hài lòng cha mình nhằm tìm kiếm sự công nhận về khả năng, sự chăm chỉ cũng như lòng trung thành của mình. Qua đó, chúng ta cũng nhận thấy nếu trong đời tu chúng ta có quan niệm sai lệch về việc được công nhận, chúng ta cũng sẽ dễ dàng đi lệch khỏi căn tính của đời tu. Mỗi người được ban cho những nén bạc khác nhau không phải để chứng tỏ mình hơn ai nhưng là để phục vụ và nâng đỡ nhau. Chúng ta cần ý thức để không biến đời tu thành sàn diễn cho những mưu mô và tranh đấu. Thật buồn nếu đời tu bị biến thành vở kịch mà nơi đó ai cũng đeo cho mình những mặt nạ thật đẹp!
Chính vì lẽ đó, người con cả còn nói lên khát khao được trả công của mình. Anh ta muốn có được con dê con để ăn mừng với chúng bạn. Thông thường, chúng ta thấy điều này thật dễ hiểu vì thợ thì đáng được thưởng công mà. Nhưng trong trường hợp này, anh ta là con của ông chủ, và anh đáng được hưởng điều đó chứ không cần trông chờ được ban cho. Anh ta không hiểu cha mình và cũng hiểu sai về vị trí của mình trong gia đình. “Con à, con luôn ở đây với cha, tất cả những gì của cha là của con.” (Lc 15, 31) Anh ta chưa bao giờ hiểu được điều này! Cho nên, chúng ta có thể hiểu được những suy nghĩ, thái độ và hành động đầy tiêu cực ấy là từ đâu mà ra. Tương tự như vậy, nhiều tu sĩ vì mang trong mình những nhận thức có phần sai lệch về đời tu nên có khuynh hướng muốn được trả công hay thu vén cách nào đó vì nghĩ rằng mình đáng được như vậy. Chúng ta cần hiểu rằng mặc dù chúng ta không sở hữu gì cả nhưng cộng đoàn là nhà và sẽ lo lắng cho chúng ta mọi điều. Mỗi người được mời gọi cống hiến cho lợi ích chung tùy theo khả năng của mình. Niềm vui của đời tu nằm ở chỗ mỗi người chia sẻ cho nhau những gánh nặng và cùng nhau bước đi trong lý tưởng đời dâng hiến. Đừng để những đòi hỏi của tính ích kỷ làm hỏng đi tinh thần huynh đệ của đời tu.
Cuối cùng, dụ ngôn kết thúc bằng lời bộc bạch đầy chân tình của người cha. Có hai điều chúng ta cần nhớ. Thứ nhất đó là địa vị làm con của chúng ta. Và thứ hai là niềm vui của việc tìm lại điều đã mất. Thiên Chúa luôn yêu thương chúng ta và qua Đức Kitô, Trưởng Tử của Ngài, chúng ta được trở nên con cái Thiên Chúa, được thông phần sản nghiệp với Đức Kitô. Vì yêu thương nên Thiên Chúa cũng đau khổ khi nhìn thấy con cái mình đi hoang. Ngài càng vui hơn khi thấy họ trở về. Cho nên, chúng ta phải vui vì ai đó ăn năn hối lỗi. Dụ ngôn cũng để ngỏ khả năng trở về của người con cả. Anh có tự do để chọn lựa vào nhà hay không. Chúng ta cũng vậy, là những người tu sĩ, chúng ta được mời gọi hoán cải mỗi ngày. Trong hồi tâm và xét mình, chúng ta cần nhìn lại đời sống của mình để xem mình có đang sống đúng với căn tính đời tu hay không. Đừng để những ảo vọng của kiếp phù vân lôi kéo và đưa chúng ta đi xa khỏi điều mà Thiên Chúa mong ước cho từng người.
Nói tóm lại, chúng ta hãy để tâm hồn mình mở rộng trước lời mời gọi của Thiên Chúa. Hãy chú tâm, lắng nghe và hồi đáp lại lời mời gọi thân thương ấy. Thiên Chúa không cần chúng ta làm gì to tát cho Ngài cả, trước hết hãy ở lại với Ngài, hãy để cho Ngài nâng yêu, ôm ấp và chăm sóc cho chúng ta. Một khi đã cảm nhận và kinh nghiệm được tình yêu của Đấng-là-Tình-yêu, chúng ta mới có đủ sức mang tình yêu ấy đến cho những người mà chúng ta được sai đến. Chúng ta cũng đừng quên lời khuyên sau đây của Chân Phước Phanxicô Maria Thánh Giá Jordan khi ngài nói rằng chúng ta đạt được sự viên mãn khi chúng ta theo đuổi, không phải ước mơ của riêng mình, nhưng là ước mơ của Thiên Chúa, đồng thời đón nhận tiếng gọi thần linh để biến cuộc sống của chúng ta thành câu chuyện tình yêu cho tha nhân. Đúng như vậy, ơn gọi tu trì trước hết là theo đuổi ước mơ của Thiên Chúa. Đó là mỗi người được nên thánh, từ đó chúng ta giúp người khác cũng nên thánh. Và bí kíp để nên thánh chính là sống sứ mạng tình yêu như chính Thiên Chúa như lời xác quyết mà chị thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu đã thốt lên: “Trong lòng của Giáo Hội là Mẹ con, con sẽ là Tình Yêu.” Ước mong ngọn lửa tình yêu sẽ đốt cháy tâm hồn mỗi người để không còn bất kỳ tính ích kỷ, sự nóng giận hay lòng ganh tị nào có thể ngăn cản chúng ta lan tỏa sức mạnh của tình yêu đến mọi ngóc ngách của kiếp nhân sinh.
Philip Nguyên, SDS



